Mở thêm dư địa
Việc kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (FTA) song phương Việt Nam – EFTA (Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland, Liechtenstein) mở thêm cơ hội để thủy sản Việt Nam tiếp cận nhóm thị trường có giá trị cao. Với đặc điểm là các quốc gia có thu nhập cao, sức mua ổn định và yêu cầu khắt khe về chất lượng, EFTA được đánh giá là thị trường phù hợp với chiến lược nâng cao giá trị gia tăng của ngành thủy sản.

Tôm nguyên liệu được sơ chế, bảo quản lạnh trước khi đưa vào chế biến, góp phần bảo đảm chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Ảnh: Hà Linh.
Số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy thủy sản Việt Nam đã từng bước hiện diện tại các thị trường EFTA. Năm 2025, xuất khẩu sang Thụy Sĩ đạt 34,31 triệu USD, trong khi sang Na Uy đạt 18,48 triệu USD. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sang Na Uy đạt 8,18 triệu USD, tăng khoảng 22,7% so với cùng kỳ năm trước. Thụy Sĩ vẫn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam trong khối EFTA, với kim ngạch đạt 16,77 triệu USD trong 6 tháng đầu năm.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định, dù quy mô xuất khẩu sang EFTA hiện chưa lớn so với nhiều thị trường truyền thống, đây lại là nhóm thị trường có giá trị cao và còn nhiều dư địa để khai thác. FTA Việt Nam – EFTA không nên được nhìn nhận đơn thuần là cơ hội gia tăng kim ngạch, mà quan trọng hơn là mở thêm không gian cho các sản phẩm thủy sản chế biến, có giá trị gia tăng và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cao của thị trường. Các sản phẩm như tôm chế biến, tôm đông lạnh chất lượng cao, cá tra chế biến, cá ngừ, mực, bạch tuộc hay các sản phẩm tiện dụng được đánh giá có nhiều tiềm năng phát triển tại các nước EFTA.
Không chỉ tạo lợi thế về thuế quan, FTA còn mở ra cơ hội hợp tác hai chiều. Theo VASEP, Na Uy và Iceland là những quốc gia có thế mạnh về nuôi biển, khai thác, quản lý nguồn lợi, công nghệ lạnh, chế biến sâu và logistics. Đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận công nghệ, nguồn nguyên liệu, phương thức quản trị chuỗi cung ứng và phát triển các sản phẩm mới có giá trị gia tăng. Đối với các doanh nghiệp có năng lực chế biến, nguồn nguyên liệu thủy sản chất lượng cao từ EFTA cũng có thể phục vụ thị trường nội địa, hệ thống nhà hàng – khách sạn (HORECA), bán lẻ hiện đại hoặc tái xuất khẩu.

Truy xuất nguồn gốc và minh bạch quy trình sản xuất đang trở thành yêu cầu quan trọng để thủy sản Việt Nam tận dụng hiệu quả các FTA thế hệ mới. Ảnh: Hà Linh.
Cơ hội cho doanh nghiệp có chuẩn bị
Tuy nhiên, theo các chuyên gia và doanh nghiệp, ưu đãi thuế quan không đồng nghĩa với việc mọi doanh nghiệp đều có thể tận dụng ngay cơ hội từ hiệp định.
Ông Nguyễn Văn Minh – Giám đốc Công ty TNHH MTV Thủy sản Nghi Sơn, đánh giá FTA Việt Nam – EFTA nhìn chung sẽ tạo thêm lợi thế cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam khi hàng hóa có cơ hội cạnh tranh tốt hơn nhờ cắt giảm thuế quan. Tuy nhiên, cơ hội này không dành cho tất cả doanh nghiệp hay mọi mặt hàng.
Theo ông, Thụy Sĩ, Na Uy và Iceland đều là những thị trường có tiêu chuẩn rất cao. Khi thuế nhập khẩu giảm, các hàng rào kỹ thuật, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững, trách nhiệm xã hội hay chất lượng sản phẩm nhiều khả năng sẽ được siết chặt hơn. Riêng với ngành thủy sản, vấn đề chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) vẫn là thách thức cần sớm được khắc phục.
“Hiệp định mở ra cơ hội nhưng không có nghĩa tất cả doanh nghiệp đều được hưởng lợi như nhau. Mỗi doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các cam kết, đánh giá lợi thế của từng mặt hàng và năng lực đáp ứng của mình để xây dựng chiến lược phù hợp. Chỉ những doanh nghiệp đáp ứng tốt các tiêu chuẩn của thị trường mới có thể tận dụng hiệu quả cơ hội mà hiệp định mang lại”, ông Minh nhấn mạnh.
Đại diện VASEP, Phùng Thị Kim Thu lưu ý khi đánh giá về khả năng tận dụng FTA. Theo bà, ưu đãi thuế quan chỉ là một trong những điều kiện để gia tăng xuất khẩu, còn yếu tố quyết định vẫn là năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường.
Theo bà Thu, doanh nghiệp muốn khai thác hiệu quả thị trường EFTA cần chuẩn bị đồng bộ từ vùng nuôi, tàu khai thác, nguồn nguyên liệu, nhà máy chế biến, hệ thống chuỗi lạnh đến truy xuất nguồn gốc, nhãn mác và các chứng nhận về phát triển bền vững. Cùng với đó, quy tắc xuất xứ sẽ là điều kiện quan trọng để được hưởng ưu đãi thuế quan. Nhiều sản phẩm thủy sản của Việt Nam sử dụng nguyên liệu nhập khẩu hoặc trải qua nhiều công đoạn chế biến, vì vậy doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ biểu cam kết, quy tắc xuất xứ theo từng mã HS, cơ chế cộng gộp cũng như thủ tục chứng nhận xuất xứ để tránh bỏ lỡ lợi thế từ hiệp định.
Theo bà Thu, doanh nghiệp cũng cần chuẩn bị cho sức ép cạnh tranh gia tăng khi các sản phẩm thủy sản từ Na Uy và Iceland như cá hồi, cá tuyết, cá thu… có điều kiện tiếp cận thị trường Việt Nam thuận lợi hơn sau khi hiệp định có hiệu lực. Đây vừa là thách thức, vừa là động lực để doanh nghiệp trong nước tiếp tục đầu tư chế biến sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và chuẩn hóa hệ thống phân phối, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo VASEP, để tận dụng hiệu quả FTA Việt Nam – EFTA, doanh nghiệp không nên chờ đến khi hiệp định có hiệu lực mới bắt đầu chuẩn bị. Việc chủ động hoàn thiện chất lượng sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy tắc xuất xứ và xây dựng chiến lược tiếp cận từng thị trường ngay từ bây giờ sẽ quyết định khả năng biến ưu đãi thuế quan thành lợi thế cạnh tranh thực sự.
Nguồn: Nongnghiep.vn
https://nongnghiepmoitruong.vn/fta-viet-nam–efta-thuy-san-them-co-hoi-vao-phan-khuc-gia-tri-cao-d822349.html