Xây dựng vùng trồng
10h sáng, tại Hợp tác xã (HTX) Sản xuất nông nghiệp và Dịch vụ Châu Pha, hàng chục lao động tất bật thu hoạch rau trên đồng. Ông Nguyễn Viết Tự – Giám đốc HTX cho biết, đơn vị hiện có khoảng 60 thành viên, canh tác trên diện tích hơn 55 ha, với sản lượng khoảng 10 tấn rau mỗi ngày. Sản phẩm được phân phối vào một số hệ thống bán lẻ như Bách Hóa Xanh, Aeon và các điểm bán rau an toàn.

Các thành viên HTX Sản xuất nông nghiệp và Dịch vụ Châu Pha thu hoạch rau. Ảnh: Hà Duyên.
Theo quy trình, rau được thu hoạch từ khoảng 10 giờ, đến 14 giờ bắt đầu sơ chế và khoảng 18 giờ được vận chuyển đến các hệ thống phân phối, đảm bảo độ tươi và chất lượng khi đến tay người tiêu dùng.
Theo ông Tự, để duy trì quy trình này, hợp tác xã phải từng bước thay đổi cách làm của các thành viên, từ ghi chép nhật ký sản xuất đến tuân thủ quy trình kỹ thuật.
Trong khi đó, tại HTX nông nghiệp Tuấn Ngọc, việc đảm bảo chất lượng nông sản được bắt đầu từ những khâu nhỏ nhất trong quá trình sản xuất. Ông Lâm Ngọc Tuấn – Giám đốc HTX cho biết, với mô hình trồng rau thủy canh, các chỉ số môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng được giám sát liên tục thông qua hệ thống cảm biến và hiển thị trực tiếp trên thiết bị di động.
Nhờ đó, người sản xuất có thể theo dõi chính xác điều kiện sinh trưởng của cây theo từng thời điểm và kịp thời điều chỉnh khi có biến động. Cách làm này giúp hạn chế rủi ro, giảm phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân, đồng thời đảm bảo sự đồng đều của sản phẩm.

Sơ chế, phân loại và đóng gói rau tại cơ sở của Công ty Mekong Delta trước khi đưa vào hệ thống phân phối. Ảnh: Hà Duyên.
Thực tế này cũng là câu chuyện chung của nhiều đơn vị khi chuyển sang sản xuất theo tiêu chuẩn. Bà Nguyễn Kiều Oanh – Giám đốc Công ty Mekong Delta cho biết, mỗi ngày doanh nghiệp cung ứng khoảng 8 – 10 tấn rau củ quả cho các hệ thống phân phối, với hơn 20 mặt hàng chủ lực.
Nguồn hàng của doanh nghiệp đến từ hai nhóm: vùng trồng do doanh nghiệp trực tiếp quản lý và vùng liên kết với nông hộ. Theo bà Oanh, khoảng 50% sản lượng đến từ vùng trồng do doanh nghiệp kiểm soát theo tiêu chuẩn VietGAP, trong khi phần còn lại là từ vùng liên kết với nông dân.
Để đảm bảo chất lượng đồng đều, doanh nghiệp phải duy trì cơ chế kiểm soát nhiều lớp. Ngoài việc hướng dẫn quy trình canh tác, các lô hàng đều được lấy mẫu kiểm nghiệm định kỳ và ngẫu nhiên trước khi đưa ra thị trường. Những chỉ tiêu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, vi sinh… được theo dõi thường xuyên nhằm phát hiện sớm rủi ro.
Song song đó, hệ thống truy xuất nguồn gốc cũng được áp dụng để ghi nhận toàn bộ quá trình sản xuất, từ khâu gieo trồng đến thu hoạch. “Chúng tôi không chỉ kiểm tra ở cuối cùng mà kiểm soát ngay từ đầu vào. Nếu có vấn đề, có thể truy ngược lại từng lô hàng, từng hộ sản xuất để xử lý,” bà Oanh cho biết thêm.
Bài toán đầu ra
Dù sản xuất đạt chuẩn, nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã vẫn gặp khó khăn về đầu ra. Ông Nguyễn Viết Tự cho biết, người tiêu dùng hiện vẫn chưa phân biệt rõ giữa rau sạch và rau thông thường khiến lợi thế của sản phẩm đạt chuẩn chưa được thể hiện rõ. Giá bán vì vậy vẫn phải cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa ngoài thị trường, trong khi chi phí sản xuất cao hơn đáng kể.
Thực tế này cho thấy, điểm nghẽn của chuỗi không chỉ là sản xuất đạt chuẩn mà còn là thiếu một cơ chế đủ mạnh để giúp thị trường nhận diện và phân biệt sản phẩm. Khi thông tin chưa được chuẩn hóa và lan tỏa rộng, nỗ lực của từng doanh nghiệp hay hợp tác xã vẫn mang tính đơn lẻ, khó tạo thành lợi thế cạnh tranh.
Ông Đào Hà Trung – Chủ tịch Hội Công nghệ cao TP.HCM cho rằng, các chương trình như “tick xanh trách nhiệm” đang đi theo hướng hình thành một cơ chế xác nhận đa chiều, với sự tham gia của cơ quan quản lý và hệ thống phân phối. Khi một sản phẩm được nhiều đơn vị cùng xác nhận, đó không chỉ là bảo chứng chất lượng mà còn giống như một “tấm hộ chiếu” giúp nâng cao giá trị và khả năng tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, cơ chế này vẫn chưa được chuẩn hóa rộng rãi, dẫn đến tình trạng mỗi hệ thống áp dụng tiêu chí riêng, khiến doanh nghiệp phải thích ứng nhiều lần nếu muốn mở rộng thị trường.
Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Nguyên Phương – Phó Giám đốc Sở Công Thương TP.HCM cũng nhìn nhận, hạn chế lớn nhất hiện nay là sự thiếu đồng bộ giữa các khâu trong chuỗi. “Việc kiểm soát nếu chỉ dừng ở từng mắt xích riêng lẻ sẽ không đủ để tạo thành chuỗi bền vững”, ông Phương nhấn mạnh.
Điều này lý giải vì sao, dù số lượng sản phẩm sản xuất theo tiêu chuẩn ngày càng tăng, nông sản an toàn vẫn chưa tạo được lợi thế rõ rệt trên thị trường. Khi chưa có một cơ chế nhận diện chung đủ mạnh, sản phẩm đạt chuẩn vẫn dễ bị “hòa lẫn” với hàng hóa thông thường. Chính khoảng trống này đặt ra yêu cầu phải hình thành một “điểm tựa” chung cho toàn chuỗi – nơi tiêu chí được thống nhất, thông tin được minh bạch và các chủ thể có thể kết nối hiệu quả hơn.
Nguồn: Nongnghiep.vn
https://nongnghiepmoitruong.vn/chuoi-cung-ung-nong-san-an-toan-bai-1-giu-chuan-tu-goc-d808213.html